Là đơn vị có bề dày truyền thống với gần 70 năm chuyên nghiên cứu về khoa học biển đóng ở trên địa bàn thành phố Hải Phòng, bao quát các hoạt động của cả vùng duyên hải Bắc Bộ, Viện Tài nguyên và Môi trường biển (nay là Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường) đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động hợp tác về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ biển với các tỉnh ven biển trong đó có Quảng Ninh. Gần 100 đề tài, dự án khoa học đã được triển khai trong suốt những năm qua với những kết quả đạt được đáng tự hào là do nhận được sự động viên, khích lệ của lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh cũng như sự hợp tác chặt chẽ từ các Sở, ban, ngành, các doanh nghiệp và người dân.
 

Cụm công trình nghiên cứu biển được địa phương vinh danh

Trong số các đề tài, dự án đã và đang được triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, 10 năm vừa qua (2015-2025), với phương châm là Viện nghiên cứu cấp quốc gia có “tầm nhìn quốc gia, hành động địa phương”, các đề tài, dự án khoa học công nghệ của Viện đã có những chuyển biến hết sức tích cực: từ nghiên cứu cơ bản thuần túy chuyển dần sang nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng và đã làm chủ được một số công nghệ phục vụ cho nuôi biển bền vững. Những nỗ lực không mệt mỏi của đội ngũ các nhà khoa học biển đã được UBND tỉnh Quảng Ninh ghi nhận, đánh giá và tặng Bằng khen cho tập thể Viện và 4 nhà khoa học chủ chốt trong cụm công trình nghiên cứu về “Tài nguyên và Môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2015-2025”.

Một số kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật của cụm công trình:

  • Đã xây dựng được bộ dữ liệu số hóa khá công phu, bài bản và đầy đủ về nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Quảng Ninh phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất cho ngành thủy sản và giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi tự nhiên. Góp phần trong công tác xử lý các hoạt động đánh bắt cá trái phép và không thông báo IUU.
  • Cung cấp luận cứ khoa học để khoanh vùng thiết lập các khu vực biển có tính đa dạng sinh học cao và đang chịu tác động mạnh của phát triển kinh tế xã hội thành các khu bảo tồn biển (Cô Tô). Các điểm trình diễn này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững, bảo tồn nguồn vốn tự nhiên cho phát triển cũng như tạo ra nhiều sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái có chất lượng ngày càng hoàn thiện.
  • Xây dựng được các quy trình kỹ thuật để phố biển cho doanh nghiệp và người dân về sản xuất giống và nuôi thương phẩm con Ngán – đặc sản có giá trị cao của Quảng Ninh. Hoàn thiện được mô hình xây dựng bãi rạn san hô nhân tạo tại đặc khu Cô Tô, phục vụ đa mục đích: phục hồi nguồn lợi rạn san hô cũng như phát triển các khu lặn thám hiểm cho khách du lịch, giảm sức ép du khách tiếp cận các rạn san hô tự nhiên còn sót lại tại các vùng lõi của khu bảo tồn biển Cô Tô – đảo Trần.
  • Tư vấn xây dựng quy chuẩn địa phương về vật liệu nổi cho nuôi lồng bè nhằm thay thế các vật liệu không rõ nguồn gốc (Phi nhựa đựng hóa chất, xốp, các loại can nhựa) bằng vật liệu HDPE có độ bền lớn hơn nhiều và thân thiện với môi trường hơn.
  • Công bố 03 sách chuyên khảo và được công nhận 01 giải pháp hữu ích phục vụ cho công tác tra cứu của nhà nghiên cứu về Quảng Ninh, tài liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý của ngành và quảng bá thông tin về tỉnh Quảng Ninh cho du khách khi tới thăm tỉnh.
  • Phát hiện/ghi nhận mới 5 loài cá biển có giá trị kinh tế, quý hiếm cho vùng biển khu di sản thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long. Các phát hiện mới này đều đã được công bố trên các Tạp chí Quốc tế có uy tín. Điều này đã củng cố thêm cơ sở khoa học vững chắc, minh chứng cho các giá trị đa dạng sinh học toàn cầu của vịnh Hạ Long – quần đảo Cát Bà là di sản thiên nhiên Thế giới.

viencnmtbien 1

viencnmtbien 2

Sản phẩm khoa học công nghệ của cụm công trình

Kết quả nghiên cứu từ các đề tài, dự án của Viện đã được các Sở, ban, ngành của tỉnh Quảng Ninh sử dụng để phục vụ cho công tác quản lý và điều hành sản xuất; như Sở Nông nghiệp và Môi trường đã sử dụng kết của Dự án “Điều tra Nguồn lợi thủy sản ven bờ và vùng lộng tỉnh Quảng Ninh” để trình UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định phân bổ hạn ngạch khai thác cho các loại nghề tại vùng ven bờ và vùng lộng. Quy chuẩn địa phương về vật liệu nổi sử dụng trong nuôi trồng thủy lồng bè đã được tỉnh ban hành áp dụng về việc thống nhất sử dụng vật liệu HDPE thay thế cho các loại vật liệu trôi nổi, có độ bền thấp và khả năng gây ô nhiễm môi trường cao trong điều kiện gió, bão hoặc biển động. Quy trình sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm giống Ngán đã được chuyển giao cho các địa phương và doanh nghiệp thủy sản để tổ chức sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ biển

Tiếp nối những thành công của gần 70 năm bền bỉ triển khai nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Ban Lãnh đạo Viện KHCN Năng lượng và Môi trường tiếp tục xác định ưu tiên đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học biển gắn với thực tiễn sản xuất và quản lý tài nguyên biển bền vững của địa phương. Trong bối cảnh tỉnh Quảng Ninh đang nỗ lực phát triển khoa học công nghệ theo tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về “ đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, khoa học biển cần đóng vai trò như kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững kinh tế biển xanh của tỉnh nhà.

Sự chủ động trong trao đổi thông tin và sẵn sàng hợp tác với các cơ quan quản lý về khoa học và công nghệ địa phương là Sở Khoa học và Công nghệ đã được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua việc tổ chức hội thảo song phương với các bên có liên quan: nhà quản lý, trường đại học, doanh nghiệp khoa học công nghệ…đã đi đến thống nhất với việc ký thỏa thuận hợp tác về khoa học công nghệ giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh và Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường vào ngày 7/10/2025 với nội dung tập trung vào việc triển khai kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW và danh mục các bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh Quảng Ninh.

viencnmtbien 3

Lễ ký thỏa thuận hợp tác về khoa học công nghệ giữa Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh

Dựa trên thế mạnh của đơn vị nghiên cứu khoa học đa ngành với 3 khối chuyên môn: Môi trường – Năng lượng – Biển, Viện tiếp tục đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tới các cấp cơ sở của Quảng Ninh trong đó ưu tiên điểm trình diễn là đặc khu Cô Tô. Cho tới nay, 9 nhiệm vụ đặt hàng từ đặc khu Cô Tô đang được các bên tích cực xây dựng để sớm được triển khai trong năm kế hoạch 2026.

viencnmtbien 4

PGS.TS. Đỗ Văn Mạnh – Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường phát biểu tại hội thảo khoa học trong chuyến công tác tại đặc khu Cô Tô về các nhiệm vụ khoa học đặt hàng của địa phương

Qua thực tế tìm hiểu nhu cầu thị trường khoa học công nghệ của tỉnh, Ban Lãnh đạo Viện KHCN Năng lượng và Môi trường đề xuất một số định hướng cho công tác nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như sau:

Trụ cột 1: Xây dựng hệ thống giám sát môi trường biển thông minh (SMES)

Khuyến nghị 1: Triển khai nền tảng hải dương học kỹ thuật số

Thiết lập một Trung tâm Dữ liệu và Giám sát Biển (Coastal Monitoring & Data Hub) sử dụng công nghệ AI và viễn thám. Nền tảng này sẽ sử dụng dữ liệu vệ tinh đa phổ (ví dụ: Sentinel-2) và các thuật toán học máy tiên tiến trên nền tảng điện toán đám mây (GEE) để mô hình hóa và theo dõi liên tục chất lượng nước (Diệp lục-a, Chất rắn lơ lửng, Nhiệt độ) tại các khu vực nhạy cảm: cửa sông, khu công nghiệp ven biển và các khu bảo tồn. Mục tiêu là cung cấp các bản đồ phân bố chất lượng nước theo không gian-thời gian và cảnh báo sớm về nguy cơ ô nhiễm và các sự cố môi trường, đặc biệt quan trọng đối với một thành phố có mật độ công nghiệp và hàng hải cao.

Khuyến nghị 2: Tích hợp robot và cảm biến thông minh cho giám sát dưới nước

Tỉnh Quảng Ninh cần đầu tư vào các đội UAV/ROV để thực hiện các nhiệm vụ nguy hiểm và đòi hỏi độ chính xác cao. Các thiết bị này sẽ được sử dụng để kiểm tra hạ tầng cảng, khảo sát địa kỹ thuật dưới đáy biển, và giám sát ô nhiễm rác thải nhựa sâu. Nghiên cứu áp dụng các công nghệ cảm biến không pin, sử dụng năng lượng áp điện, để theo dõi dài hạn các chỉ số về biến đổi khí hậu (nhiệt độ, áp suất) tại các khu vực biển xa bờ của Quảng Ninh. Dự báo vi khí hậu phục vụ cho các hoạt động du lịch, hàng hải và phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Trụ cột 2: Chuyển đổi kinh tế biển và logistics hướng tới Net Zero

Khuyến nghị 3: Phát triển mô hình cảng xanh – cảng thông minh (Green & Smart Port)

Ứng dụng AI và chuyển đổi số toàn diện trong quản lý, vận hành cảng để tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics và đồng bộ hóa giao thông đa phương thức (đường biển, đường bộ, đường sắt) theo thông lệ quốc tế. Đồng thời, cần lồng ghép các giải pháp năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, vào hoạt động cảng, cung cấp năng lượng sạch cho tàu thuyền và các cơ sở vận hành, tiến tới mục tiêu Net Zero. Phát triển công nghệ logistics thông minh, như các dự án đổi mới sáng tạo về AI trong logistics, là yếu tố then chốt.

Khuyến nghị 4: Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học Biển

Thúc đẩy các Viện nghiên cứu Trung ương và các doanh nghiệp khoa học công nghệ địa phương để tạo ra một chuỗi hệ sinh thái nghiên cứu, kiểm thử, sản xuất, thị trường nhằm  phát triển các dự án Blue Biotechnology. Trọng tâm là nghiên cứu gen và nuôi trồng thủy sản xa bờ công nghệ cao (Offshore Aquaculture) từ đó cung cấp lương thực xanh bền vững và giảm áp lực lên các hệ sinh thái ven bờ. Song song đó, đầu tư vào nghiên cứu phục hồi các hệ sinh thái Carbon Xanh tại khu vực Hạ Long – Bái Tử Long – Tiên Yên. Dựa trên khả năng lưu trữ carbon cao của rừng ngập mặn (1,000 tấn carbon/ha), Quảng Ninh hoàn toàn có thể phát triển các dự án phục hồi để tham gia vào thị trường tín chỉ carbon, tạo ra nguồn lợi kinh tế từ bảo tồn.

Trụ cột 3: Nâng cao năng lực khoa học và hợp tác quốc tế

Khuyến nghị 5: Lồng ghép chương trình nghiên cứu với UN Ocean Decade

Các cơ quan nghiên cứu và quản lý của Quảng Ninh (Đại học Hạ Long, Viện Khoa học công nghệ  Tài nguyên và Môi trường, các Viện trực thuộc Viện Hàn lâm, Sở NN&MT) cần thành lập và hỗ trợ cho Quảng Ninh một Trung tâm Nghiên cứu biển tiên tiến, phục vụ cho phát triển kinh tế biển của Tỉnh để điều phối chuyên trách nhằm xây dựng các đề xuất nghiên cứu và hành động phù hợp với 10 Thách thức của Thập kỷ Đại dương. Việc này giúp Quảng Ninh huy động các nguồn lực quốc tế, tiếp cận mạng lưới chuyên gia và chuyển giao công nghệ mới (ví dụ: công nghệ truyền tải điện bằng dòng điện một chiều cao áp (HVDC) cho điện gió, AI giám sát môi trường. Khung Thập kỷ Đại dương là kim chỉ nam để đảm bảo tính phù hợp và khả năng tài trợ quốc tế cho các dự án địa phương.

Khuyến nghị 6: Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật hải dương học số

Trường Đại học Hạ Long, Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường cần đầu tư mạnh vào các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật hải dương học số (Digital Oceanography). Chương trình này phải tập trung vào phân tích dữ liệu lớn (Big Data), AI/Học máy và kỹ thuật vận hành UAV/ROV. Điều này đảm bảo cho Quảng Ninh không chỉ là nơi áp dụng công nghệ mà còn là trung tâm dẫn đầu về Kỹ thuật Hải dương học số của cá nước và khu vực Châu Á, có khả năng vận hành và phát triển hạ tầng cảng thông minh và hệ thống giám sát môi trường công nghệ cao.

Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Quân, Phó Viện trưởng Viện KHCN Năng lượng và Môi trường, những thành quả của Viện đạt được trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là đáng trân trọng, nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của địa phương. Mặt khác “làm khoa học nói chung, đặc biệt là nghiên cứu biển chưa bao giờ là công việc dễ dàng do tính chất đặc thù của công việc phải thường xuyên đối mặt với sự thay đổi bất thường của thời tiết”. Bên cạnh đó, vẫn còn một số khó khăn vướng mắc cần được tháo gỡ như: Kinh phí đầu tư cho việc triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ đối với lĩnh vực biển còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu để nhà khoa học có thể nghiên cứu và tạo ra sản phẩm khoa học hoàn chỉnh để chuyển giao cho doanh nghiệp và người dân. Thiếu các định mức kinh tế kỹ thuật để lượng hóa các giá trị sản phẩm tạo ra từ các đề tài, dự án dẫn tới khó khăn trong việc lập thuyết minh đề tài, dự án có liên quan đến chuyển đổi số có áp dụng các công cụ tiên tiến như AI phục vụ cho phát triển kinh tế biển của tỉnh. Thiếu các kênh kết nối trực tiếp giữa nhu cầu của doanh nghiệp địa phương, nhà quản lý thuộc các lĩnh vực có liên quan để đặt hàng các nhà khoa học về các bài toán lớn mà địa phương có nhu cầu. Địa phương nên đi đầu trong việc phát triển thị trường thẩm định các ý tưởng ngay từ bước sơ khai (Innovation  Markets) nhằm kết nối nhà khoa học với các bên quan tâm (doanh nghiệp, người dân, nhà quản lý) để tạo ra sản phẩm đầu cuối có tính ứng dụng thực tiễn hơn. Kinh tế biển của Quảng Ninh đóng vai trò là trụ đỡ trong phát triển nhanh và bền vững, cần xây dựng chương trình nghiên cứu chuyên biệt và dài hạn về khoa học biển phục vụ cho phát triển kinh tế biển.

Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 

Xử lý tin: Viện Hóa học

Bài viết khác: