Buổi trò chuyện bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản, lĩnh vực thường được xem là khá xa với những mục tiêu tăng trưởng trước mắt nhưng lại chính là nền móng âm thầm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của mỗi quốc gia. Từ trải nghiệm nhiều năm nghiên cứu, làm việc, hợp tác tại các trung tâm khoa học lớn trên thế giới, nhà Toán học Phùng Hồ Hải cho rằng, nếu muốn phát triển bền vững và bước vào những lĩnh vực công nghệ cao, Việt Nam không thể thiếu một nền khoa học cơ bản mạnh.

Phóng viên: Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt cho tăng trưởng hai con số. Qua kinh nghiệm nghiên cứu tại các trung tâm khoa học hàng đầu thế giới, Giáo sư đánh giá như thế nào về vị trí của khoa học cơ bản trong hành trình bứt phá của một quốc gia? Những kinh nghiệm quốc tế nào là gợi mở đáng chú ý đối với Việt Nam trong xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản bền vững?
Giáo sư Phùng Hồ Hải: Tất yếu. Nghiên cứu cơ bản không có đóng góp trực tiếp cho kinh tế xã hội, tạo ra sản phẩm nếu không nó đã được gọi là nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu triển khai. Đóng góp của nghiên cứu cơ bản là gián tiếp nhưng nó góp phần vào đảm bảo sự bền vững của phát triển, đặc biệt khi nền kinh tế đã phát triển tới một mức độ cao về khoa học và công nghệ. Mức độ phát triển càng cao, nhu cầu về sự đóng góp của nghiên cứu cơ bản càng lớn.
Hàn Quốc và Trung Quốc là hai nền kinh tế có nhiều tương đồng với chúng ta. Có sự tương đồng cả về văn hóa và xã hội. Hãy lấy ví dụ về sự phát triển toán học. Hàn Quốc đi trước về phát triển công nghệ. Hệ quả của nó là vào khoảng đầu những năm 2000 có một sự bùng nổ về sự phát triển toán học tại Hàn Quốc. Tại Trung Quốc, điều này diễn ra vào khoảng đầu những năm 2010.
So sánh với hai nước trên cũng như các nước công nghiệp phát triển khác trên thế giới, quá trình đầu tư cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam có vẻ hơi ngược. Từ những năm 1960, Việt Nam đã có đầu tư rất mạnh về nhân lực cho nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, sự đầu tư đó không được thực hiện đồng bộ với việc phát triển kỹ thuật công nghệ, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh ngoại cảnh khác như chiến tranh, trì trệ về kinh tế, khiến cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam thiếu sự kết nối với kỹ thuật công nghệ.
Mặc dù vậy, nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam vẫn có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng, dù ít được nhắc tới, đó là đóng góp vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ.
Bài học cần rút ra là đầu tư cần phải có mục tiêu rõ ràng, cân bằng giữa ngắn hạn và dài hạn. Cần xác định rõ trong từng giai đoạn đầu tư cho nghiên cứu cơ bản nhằm hướng tới mục tiêu gì. Có thể lấy sự phát triển ngoạn mục của toán học Xô viết trong thế kỷ hai mươi làm ví dụ. Nó là hệ quả của các chương trình phát triển vũ khí cũng như chương trình vũ trụ của chính quyền Xô Viết. Điều tương tự cũng đã xảy ra tại Hoa Kỳ. Và bây giờ như chúng ta thấy đang xảy ra ở Trung Quốc. Nói ngắn gọn, nghiên cứu cơ bản không phải là trò chơi, nó sẽ xuất hiện một cách tất yếu khi các chính quyền cần đầu tư phát triển công nghệ cao.
Phóng viên: Từ góc nhìn của mình, Giáo sư đánh giá ra sao về thực trạng nghiên cứu khoa học cơ bản ở Việt Nam hiện nay? Theo Giáo sư, khoa học cơ bản có thể đóng góp như thế nào cho phát triển công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, cũng như tăng trưởng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong dài hạn?
Giáo sư Phùng Hồ Hải: Nhân lực. Trên thực tế, đội ngũ nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam đang vừa tản mạn về nhân lực, vừa thiếu thốn về cơ sở vật chất do không được đầu tư đầy đủ, vừa thiếu mối liên hệ với các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ do bản thân các lĩnh vực này còn chưa được phát triển thậm chí chưa tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu cơ bản đã góp phần xây dựng nên đội ngũ trí thức Việt Nam ngày nay, góp phần vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ cho đất nước, nâng cao văn hóa cho xã hội. Nói một cách ngắn gọn nghiên cứu cơ bản góp phần quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước trong kỷ nguyên mới - ngày nay sự cạnh tranh giữa các quốc gia dựa trên hai nền tảng, một bên là hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, bên kia là nguồn nhân lực.
Đóng góp trước tiên của nghiên cứu cơ bản là vào kho tàng tri thức của nhân loại. Ở mức độ này nghiên cứu cơ bản là không có biên giới. Các chính phủ Trung Quốc hay Hàn Quốc đầu tư mạnh mẽ cho toán học không phải vì họ kỳ vọng ứng dụng các sản phẩm của toán học vào sự phát triển nền kinh tế của họ. Trong thực tế, các phát minh toán học hay vật lý, hóa học … trên toàn thế giới có thể được mọi quốc gia ứng dụng - nếu có thể ứng dụng được.
Để cạnh tranh ngày nay, các quốc gia cần một đội ngũ lớn mạnh nhân lực có năng lực khoa học công nghệ. Năng lực khoa học bao gồm: năng lực phân tích vấn đề một cách logic; năng lực tư duy hệ thống - nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể; năng lực tư duy độc lập khách quan - giải quyết các vấn đề mới một cách sáng tạo không rập khuôn. Các năng lực này có thể được bồi đắp thông qua thực hành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu triển khai.
Nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển khoa học công nghệ. Nó vừa cung cấp ý tưởng giải quyết các vấn đề của công nghệ của cung cấp nhân lực để hiện thực hóa ý tưởng này. Cách hiệu quả nhất của Việt Nam là đầu tư nghiên cứu cơ bản với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực.
Phóng viên: Theo Giáo sư, đâu là những rào cản lớn nhất đang cản trở sự phát triển của khoa học cơ bản tại Việt Nam hiện nay? Những nút thắt đó nên được tháo gỡ theo hướng nào để tạo ra môi trường học thuật thực sự thuận lợi cho nghiên cứu đỉnh cao?
Giáo sư Phùng Hồ Hải: Chuyên nghiệp. Việt Nam không có truyền thống lâu đời về nghiên cứu khoa học. Về cơ bản, những nghiên cứu đầu tiên chỉ được thực hiện từ sau năm 1954. Điều này ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Thực tế, nghiên cứu khoa học là một việc cực kỳ vất vả, cạnh tranh cao độ nếu như muốn đạt đến tầm quốc tế. Bởi vì không có sự phân biệt về chuẩn mực trong nghiên cứu cơ bản theo các biên giới địa lý, các nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam, Trung Quốc hay Hoa Kỳ đều sẽ được gửi vào cùng những tạp chí để phản biện, công bố.
Yếu tố khách quan khác ảnh hưởng nhiều đến tính chuyên nghiệp của các nhà khoa học Việt Nam chính là chế độ đãi ngộ. Do được đãi ngộ thấp, các nhà khoa học không thể đầu tư toàn bộ thời gian cho nghiên cứu của mình. Họ phải làm nhiều công việc cùng một lúc để đáp ứng được nhu cầu cuộc sống. Trong nhiều trường hợp nghiên cứu trở thành nghề phụ của cả nhà nghiên cứu.
Để tăng tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu cơ bản, tôi không biết có cách nào khác ngoài việc xây dựng môi trường nghiên cứu như các nước phát triển. Các mô hình đều tương đối đơn giản. Đó là mức lương, ở các nước phát triển, các nhà khoa học về cơ bản không nhận gì ngoài lương. Đó là kinh phí nghiên cứu khoa học. Nói một cách nôm na mỗi nhà khoa học đầu ngành giống như một ông chủ nhỏ. Họ cần kinh phí để phát triển “công ty” hay “startup” của mình. Các thành viên trong “công ty” sẽ bao gồm các đồng nghiệp, các thực tập sinh sau Tiến sĩ, các nghiên cứu sinh, các sinh viên, các kỹ thuật viên. Cuối cùng là cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trung tâm tính toán…
Phóng viên: Nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, từ những thành tựu nổi bật của Giáo sư trong thời gian qua, đặc biệt là giải thưởng danh giá vừa được vinh danh, Giáo sư có thể chia sẻ những trải nghiệm, bài học và thông điệp gửi tới thế hệ trẻ để truyền cảm hứng lan tỏa đam mê theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học; đặc biệt cần làm gì để khơi dậy tình yêu toán học cũng như các môn khoa học cơ bản trong thế hệ trẻ, từ đó chúng ta có được một thế hệ các nhà khoa học đủ mạnh, đủ tài cho giai đoạn mới của đất nước?
Giáo sư Phùng Hồ Hải: Càng ngày tôi càng tâm đắc với câu nói của một người thầy tôi về những người làm toán chúng tôi: toán học chọn chúng tôi chứ không phải chúng tôi chọn toán học. Công việc của những người làm toán thực ra rất giống những người nông dân: cấy cày, gieo gặt, bắt sâu, nhổ cỏ, đào mương dẫn nước. Niềm vui chỉ có thể có sau mùa gặt mà không phải mùa gặt nào cũng thắng lợi. Có lẽ với các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản khác cũng thế. Ta đến với nó bằng tình yêu hay sự đam mê và ở lại bởi tinh thần chuyên nghiệp. Như vậy, theo đuổi khoa học là lựa chọn riêng của mỗi người. Trách nhiệm của chúng tôi, những người đi trước là làm sao tạo cơ hội cho các bạn trẻ có thêm một lựa chọn. Tôi cho rằng đây là một cơ hội cho nền khoa học nước nhà nói chung và ngành toán học nói riêng.
Đối với toán học, chúng tôi đã có nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy tình yêu với bộ môn này như xuất bản tạp chí toán học dành cho đại chúng, tổ chức các kỳ thi toán học hay các ngày hội toán học, để các bạn trẻ có không gian tiếp xúc với toán học, từ đó nuôi dưỡng niềm đam mê từ khi còn nhỏ. Thông qua những kỳ thi, những buổi gặp gỡ và trao đổi với học sinh, chúng tôi có thể nhận diện những em có năng khiếu nổi bật để định hướng, bồi dưỡng sớm. Tôi cho rằng, điều quan trọng không chỉ là tìm ra những học sinh giỏi, mà còn là tạo cho các em một môi trường học thuật đủ tốt để các em được khuyến khích đặt câu hỏi, được theo đuổi sự tò mò và được phát triển theo đúng năng lực của mình. Nhiều em ban đầu đến với toán học chỉ vì sự thích thú rất tự nhiên nhưng nếu được dẫn dắt đúng cách, niềm yêu thích ấy có thể trở thành động lực để theo đuổi nghiên cứu lâu dài sau này.
Phóng viên: Xin cảm ơn Giáo sư về buổi trò chuyện này và chúc Giáo sư luôn vui khỏe.
Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Vietnamese
English



